Với miền núi cao, địa hình chia cắt, trắc trở,nên khỏe đôi chân thôi cũng không đủ sức để mà tồn tại, huống chi lại là dân tộc ưa tự do và thích đi đây đó, bay nhảy như người Mông.
Người Mông quý ngựa vô cùng, chăm sóc, chau chuốt…Nhà nào cũng cố tậu cho được con ngựa, nghèo thì có con ngựa trắng, dùng để thồ hàng, khá hơn thì ngựa ô, giàu thì phải có nhiều ngựa, nhất là ngựa tía. Chuồng ngựa nhà giàu chật ních, thuê mướn hẳn một người chuyên chăn ngựa, gọi là Mã Phài.
Ngựa không chỉ cho sức kéo, thồ hàng…mà còn là vật trang trí và tô điểm cho con người. Đến mùa xuân đi tìm người yêu, hay đơn giản như xuống chợ mà có con ngựa đẹp để cưỡi thì thật tuyệt, chuông ngựa cũng phải nhờ bác thợ rèn giỏi nhất làm, để nó phát ra thanh âm hay, vang xa, cho xứng với ngựa xịn xò. Đúng là “Chim đi ngựa” thật là đẳng cấp! Chứ đường chim bay thì hơi khó! Ke..ke
Trai nghèo, cuốc bộ đi chợ, nách kẹp con gà, lao vào hàng phở, thắng cố là cũng tạm được rồi, còn trai nhà giàu, đẳng cấp thì tiền giắt cạp quần, và phải mỗi hôm đi chơi, dùng một con ngựa mới ngầu. Xuống chợ, tán gái, buộc con ngựa ở gốc cây, ngoài cổng. Ai đến, cứ nom con ngựa là biết độ “pờ rồ” của chủ sở hữu rồi!
Qúy ngựa, nên người Mông ít khi ăn thịt nó, ngựa tốt theo chủ từ thuở trai tráng, xông pha trận mạc, hay dong duổi khắp các miền rừng, mỗi độ xuân về để tìm người yêu, ngựa giúp chàng trai thỏa trí tang bồng.
Người già đi, ngựa cũng cỗi, yếu theo, nhưng vẫn được săn sóc, không bắt thồ nặng nữa…tới khi nào rụng răng và chết thì được đem đi chôn. Người Mông chết, thì phương tiện giúp họ sang được thế giới tổ tiên cũng là con ngựa, gọi là ngựa trời – thông qua hình ảnh ước lệ biểu trưng là chiếc cáng làm bằng tre, treo lơ lửng giữa nhà cho người chết nằm. Giống ngô truyền thống, được coi là cây sinh tồn/cây văn hóa mà người Mông vẫn trồng được họ gọi là Ngô răng ngựa, tuy năng suất thấp, nhưng ngon và ít bị mọt hơn ngô nhà nước.
Ngựa gắn với thuở xuân thì, trai tráng là thế. Cười ngựa đi chợ, thồ hàng, leo dốc túm đuôi ngựa…Gặp gỡ, giao lưu, say rượu…lại ngất ngưởng trên lưng ngựa mà về, hoặc lại túm đuôi ngựa mà lết theo. Trai tráng thể hiện sức mạnh, tài năng bằng cách tham gia những cuộc thi đua ngựa…Ngày xuân hội bản thì có chọi/đấu ngựa rất vui và độc đáo…
Dần dà….đổi thay, Ngựa chỉ còn là hình ảnh quá vãng, được người Mông lưu giữ…và nay trở thành đối tượng của du lịch, như hội đua ngựa Bắc Hà nổi tiếng khắp vùng cao nguyên… chọi ngựa cũng vậy.
Đầu những năm 90 của thế kỷ trước, ngựa sắt bắt đầu phổ biến đến miền núi, nhà nào giàu nhất bản thì phải có con ngựa sắt, chạy xuỳnh xuỵch như máy xát thóc, dốc nào cũng phi được. Thế là, ngựa ăn cỏ dần vắng, rồi người miền xuôi lại mê cao ngựa nữa.
Thời buổi bấy giờ thì “Đẹp Trai đi bộ không bằng mặt rỗ đi xe”. Các trai Mông phải cố kiếm cho bằng được 1 con ngựa sắt để xuống chợ, tán gái và tạo sức hút. Như truyện ngắn “Con Dê Bốn Mắt” của Đỗ Bích Thuý, mô tả hất hay và dí dỏm cái thuở giao thời kiểu “em không tham bạc tham vàng, chỉ tham hố xí nhà chàng hai ngăn”. Trong truyện này là ông Dí, con nhà Dấn, thuộc hàng công tử bột, người ngợm trắng như cỏ mọc cớm nắng, ăn bao nhiêu thịt cũng không lớn nổi, người bé tẻo teo. Muốn đi tán gái thật khó. Bố Dí là Dấn, lo ngay ngáy…cuối cùng ông cũng tìm ra phương cách để tăng độ hấp dẫn cho thằng con bằng cách ôm 6 củ xuống huyện tậu cho thằng Dí quả xe máy Sim Son đỏ chót.
Dí có xe máy, đi chợ phiên, 6 ngày đèo 6 đứa gái Mông khác nhau. Đứa nào cũng cười tít thò lò, má đỏ ửng. Đến đúng ngày thứ 6, Dí đòi lấy vợ. Đứa gái đó là Kía, ngồi xe của Dí và kết Dí. Hai đứa yêu nhau.
Khổ nỗi, khi ông mối đến hỏi thì bố mẹ Kía không đồng ý, vì tin vào thầy bói. Kía phải lấy người có sính lễ là con Dê trắng có 4 mắt. Ke..ke. Đúng là nhà giàu còn thiếu mẻ, Nhà Dí kiếm hoài không ra.
Kía đẹp, nên có nhiều người mê, trong đó có Chay. Trai nhà nghèo, vẫn phải dùng ngựa ăn cỏ. Nhưng Chay sao đấu với Dí được. Ngựa của Chay suốt ngày chỉ “ngửi khói” ngựa của Dí.
Nhưng được cái thông minh, láu cá. Nghe lỏm được chuyện mê tín của bố Kía, ông Chay lôi con dê trắng nhà mình ra tắm trắng bong, sau đó dùng mực chàm tô thêm cho nó 2 con mắt giả. 2+ 2 = Kía. Ke..ke
Ổng ễnh một mình một Dê đến hỏi vợ. Bố Kía ok ngay, nhưng Kía thì không chịu, đòi tự vẫn, vì chót mê Dí rồi. Chay không Lấy được Kía, Dí ốm tình, nằm chết dí một chỗ.
Cuối cùng Kía lấy chồng, chẳng phải Dí mà cũng không phải Chay, mà là một trai mông to cao lực lưỡng, từ tít miền núi xa tới. Tay này, không có xe máy, cũng chẳng có dê trắng 4 mắt, mà cưỡi một con ngựa Tía. Khi trai bản và cả Dí lẫn Chay, nhìn thấy con ngựa Tía buộc dưới gốc cây Lê, đầu cổng nhà Kía kiểu “đánh dấu lãnh thổ” thì đều lắc đầu ngao ngán, bởi: “Có một con ngựa Tía cao to lừng lững, lông óng mượt buộc ở gốc cây lê, phải là một người trai rất cao lớn, bắp chân bắp tay cuồn cuộn mới cưỡi nổi con ngựa ấy” rồi “Mặt Kía đỏ nhừ, mắt cười tít với đứa trai đó”. Dí và Chay chỉ là hạng ruồi, nếu so với gã trai kia theo thể thức MMA.

Nguồn: https://tinthethao24.com/

Xem thêm bài viết khác: https://tinthethao24.com/cac-mon-khac

1 COMMENT

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here